1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Vịn Vào Lục Bát Của Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      8-9-2017 | VĂN HỌC

      Vịn Vào Lục Bát Của Trần Hoài Thư

       PHẠM VĂN NHÀN


          Nhà văn Trần Hoài Thư
      Lão ngồi khâu di sản
      Kim đâm mà không hay (THT)

      Vịn Vào Lục Bát. Đây là tập thơ hoàn toàn lục bát, không có thể loại thơ nào khác trong thi tập này, mà anh đã viết trước đây. Nhận được tập thơ, tôi đọc ngay và có vài cảm nghĩ về tập thơ mà anh đã nói với tôi trước đó. Lục Bát. Một thể loại thơ hoàn toàn Việt Nam. Rất dễ làm. Nhưng cũng rất khó làm về thế loại thơ này. Dễ làm, nhưng không ít có người làm hay để lôi cuốn người đọc. Không khéo lục bát sẽ trở thành những bài vè hay ca dao. Cho nên lâm một bài lục bát hay, rất hiếm. Chứ đừng nói đến chuẩn của loại thơ "thuần việt" này.


      Tôi thích đọc những bàí thơ hay. Đã lã thơ không hay, thì đừng nên làm. Bẩn tai người đọc. Do đó, khi đọc được những bài thơ hay nó dễ cảm nhận với nhà thơ. Để tự mình thấy "khoai" khi đọc được bài thơ hay của một tác giả nào đó. Từ xa lạ, tự nó dẫn đến gần gũi hơn qua những con chữ. Khoái lắm. Sướng lắm. Mê lắm... khi đọc được một bài thơ hay là vậy. Đối với tôi.


      Còn bây giờ thì sao? Trước mặt tôi là tập thơ của một người bạn. Một người bạn tự gắn bó trên 50 năm vui, buồn, gian khó có nhau khi còn trong quân ngũ. Và, cũng đã đọc thơ và truyện của anh nhiều. Cho nên, khi viết về những tác phẩm của anh, với tôi: dễ mà khó. Dễ: tình bạn. Khó: không khéo người ta bảo lại khen nhau.


      Tuy nhiên, với tập thơ: Vịn Vào Lục Bát này của anh. Tôi chấp nhận: không khéo lại khen nhau. Quả thật như vậy. Thơ hay, tôi nói hay. Thơ dở tôi nói dở. Với tập thơ khoảng 100 trang trở lại, gồm toàn lục bát. Tôi đọc gây cho tôi một ấn tượng. Một cảm xúc. Một cảm xúc thật sự. Vi đơn giản là hay. Nhiêu người bạn làm thơ của tôi cũng nói như thế khi đọc thơ lục bát của anh.



      Nhưng lạ, tại sao với tập thơ này, anh lại chọn cho cái tựa là: VỊN VÀO LỤC BÁT? Thế nào cũng có người hỏi: quái, sao lại là Vịn vào Lục bát? Tôi nghĩ anh có lý của riêng anh. Tôi lại nghĩ (cũng lại nghĩ), qua cảm nhận của riêng tôi: VỊN là động từ. Có nghĩa là đưa tay tựa vào chỗ nào đó để đi, để đứng cho vững. Ví dụ: thuở còn nhỏ, mới đi chập chững, phải vịn vào tay mẹ bước từng bước. Lan can mẹ, mẹ khom lưng/ Đễ con được vịn, khỏi cần nhón chân / Đứng bên mẹ, bé vô cùng/ Thấy như tay mẹ sẵn sàng dẫn con. Khi lớn tới trường, Vịn vào thầy . Thầy dạy cho ta ba chữ a, b, c để vào đời. Trong quân ngũ chúng tôi cũng vậy. Vịn vào đồng đội để chiến đấu có nhau...


      Như vậy: Vịn Vào Lục Bát có nghĩa là anh dã đi vào lục bát bằng dôi tay, bằng bộ não, cho nên lục bát của anh phải... hay. Ví dụ như hai câu đầu trong bài lục bát Một nửa vầng ngọc lan thôi: Em xa nhà. Tôi xa quê / Em bỏ đi, tôi cũng đi, chẳng về. Anh dã phá thể loại thơ này trong hai câu đầu mà chúng ta đã học thời côn trung học: nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh. Nhưng theo tôi, sự phá thể của anh rất tuyệt vời. Chỉ với hai câu đầu thôi: Em xa nhà, Tôi xa quê (thanh bằng / phá thể) nhưng lại đối nhau một cách chặt chẽ. Tạo cho người đọc một cảm xúc rất mãnh liệt. Buồn não lòng. Nhưng, ở bài viết này, tôi không phải là nhà phê bình văn học, chỉ "múa rìu qua mắt thợ" một chút thôi, để nói lên thơ lục bát của người bạn tôi thật tuyệt vời xuyên suốt hết cả tập. Có nhiều bài cũng phá thể. Vượt ra ngoài cái khung luật của thơ. Nhưng tuyệt vời lắm: như trong bài Điếu Thu chỉ có 12 câu, mà đã phá thể luật bằng trắc hết 4 câu. Hai câu đầu và hai câu cuối:

      Tôi đi, thì tôi đi đây

      Đi đâu, đường vẫn rụng đầy lá thu

      hay:

      Chỉ tôi, không ai tiễn đưa

      Khi đời đã rụng cuối mùa thanh niên

      Ông bạn nhà thơ của tôi. Anh Tô Thẩm Huy khoái quá, đập bàn. Tuyệt. Đọc lên thấy nao nao cõi lòng. Như vậy, lục bát, một thể loại thơ thuần Việt mà chắc chắn tay anh đã chạm đến nó. Mà đã chạm đến nó thì phải vững. Những bài thơ phải hay. Lôi cuốn người đọc. Trong đó có tôi.


      Vâng. Đúng vậy. Với vỏn vẹn 100 trang. Những bài thơ thật ngắn đã thật sự lôi cuốn tôi phải đọc. Và, tự nó, lôi cuốn tôi phải viết. Viết về tập thơ của người bạn trên 50 năm. VỊN VÀO LỤC BÁT tôi chia ra làm ba phân đoạn.

      Đoạn một: Hiện tại.

      Đoạn hai: Một thời trong quân ngũ.

      Đoạn ba: Nhớ về bạn bè trong khu sáu (Quy Nhơn).


      Với đoạn một. Thời hiện tại cửa anh hôm nay. Tôi đọc những bài thơ anh làm mà thấy xót xa. Một người lính trận năm nào, chúng tôi dã "phung phí" tuổi trẻ cho một lý tưởng, thì hôm nay ở cái tuổi thất thập cổ lai hy này, anh vẫn miệt mài, chăm sóc người vợ bịnh đau trong nursing home mà anh đã từng viết những bài dài trên trang báo TQBT. Anh vẫn miệt mài trên từng con chữ. Anh vẫn miệt mài in ấn dưới basement để cho ra những đầu sách, những tạp chí văn học mà anh đã làm. Chữ nghĩa văn chương hình như không xa lìa khỏi cuộc sống bình thường của anh ở trên xứ người. Ở cái tuổi già và bịnh đau (gout) như anh, đáng lẽ hôm nay anh phải thụ hưởng. Nghỉ ngơi. Nhưng không, người lính trận năm nào đó vẫn:

      Bến kia, lạnh nến đôi hàng

      Phố kia, và nhũng con đường lặng im

      Nhà kia, đóng cửa im lìm

      Sao tôi không đóng nỗi niềm muội mê

      (Hỏi Lòng)

      Đúng vậy. Nêu không qua thăm anh, tôi chẳng bao giờ thấy được: nhà kia đóng cửa im lìm. Sao tôi không đóng nỗi niềm muội mê.


      Còn hơn thế nữa. Nỗi buồn nào hơn khi về lại ngôi nhà mà trước đó đầy ắp tiếng cười tiếng nói của người vợ. Nay sao im ắng quá. Tôi dọc những đoạn lục bát này mà sao nghe não lòng:

      Bên ngoài bãi đậu xe vơi

      Với rừng phong lạnh xám trời tịch liêu

      Mênh mông trời đất buồn hiu

      Chưa tàn thu mà ngậm ngùi ủ ê

      Bên ngoài cây lạnh tê tê

      Tôi vào cánh cửa não nề áo cơm

      (Bãi Lạnh )

      Hay:

      Đi về biết chở gì theo

      Chở theo vạt nắng bên đèo vào xe

      (Đi Về)

      Nỗi cô đơn của người lính trận năm nào, khi mà ngày nào cũng vào nursing home nuôi vợ. Ngày nào cũng mang cơm, mang nước... Ngày nào cũng thay đổi món ăn để cho vợ vui. Người lính trận năm xưa ở cái tuổi xế chiều này, anh phải làm những công việc mà theo tôi nghĩ ít có người nào chịu khó, chịu thương:

      Bước lên bước xuống bực thềm

      Chân lê tay vịn bù đền trúc mai

      Bước lên tay vịn lê giày

      Bước xuống nhăn mặt

      mồ cha mày đồ Gout

      Muốn ký phép, nghỉ xả hơi

      Nhung thương bà xã không người nấu ăn

      (Tam Cấp Ở Ashbrook Nursing Home)

      Còn nữa, qua những bài lục bát trong đoạn một. Anh làm, tôi mới thấy hết tình cảm của người lính năm xưa dành cho người vợ đáng thương đang nằm một chỗ. Tôi mới thấm cái tình của anh dành cho vợ, chẳng những thế mà còn dành cho đồng đội và bạn bè trong tập lục bát này.


            (Ảnh Tô Thẩm Huy)

      Hôm nay lạnh. Buồn Tàn thu

      Tay ôm tay xách tôi vào với em

      Bước lên ba cấp bậc thềm

      Buồn lên bảy cấp khắp miền scotch plains

      Hôm nay lạnh, buồn tàn thu

      Em nằm tôi hạ tôi hầu à ơi

      À ơi bồ kết rụng rồi

      Sao không rụng trái khổ đời nghiệt oan

      (Bồ Kết Rụng Rồi)

      Bài lục bát. Bồ Kết Rụng Rồi sao nghe buồn quá vậy. Cái hương bồ kết thơm nồng anh gội đầu cho vợ ở miệt vườn năm nào nay rụng đâu rồi trên mái tóc dài của người con gái Nam bộ? Đễ anh thốt lên hai chữ à ơi. Thử hỏi không não lòng sao được


      Với những bài lục bát ngắn trong đoạn một, nói lên hết nỗi lòng và nỗi cô đơn cửa anh khi hằng ngày vào với vợ trong nursing home. Để đến khi về nhà, tôi mới thấy hết nỗi cô đơn của anh trong ngôi nhà đầy ắp tình thương hôm nào. Nay sao. Tôi nghe anh nói lên nỗi buồn trống vắng mà tôi đã nhìn thấy sự trống vắng trong ngôi nhà anh chị ở:

      Còn đây, một chỗ bên trời

      Còn đây chìa khóa mở đời cưu mang

      Còn đây với tủ với bàn

      Xếp trăm nỗi nhớ ủ ngàn nỗi quên

      Còn đây tấc dạ thước mền

      Giường dưng, gối lạ, ngọn đèn vàng hiu

      Còn đây, còn đêm tịch liêu

      Trong tôi con sóng thủy triều trở trăn...

      (Về Lại Phông Ngủ)

      Có qua thăm bạn, tôi mới biết hết cái nỗi trống vắng dễ sợ đó. Thế mà bao năm rồi bạn nhỉ? Ba năm hơn có lẽ. Ba năm bạn sống trong âm thâm lủi thủi: Giường dưng, gối lạ, ngọn đèn vàng hiu.


      *


      Qua đoạn hai: Một thời trong quân ngũ của người lính trận năm xưa. Gợi nhớ trong anh nỗi nhớ về một chiến trường xưa. Đồng đội xưa. Ai rồi cũng có những kỷ niệm trong đời quân ngũ. Với những dỏng lục bát nghe gần gũi với tôi, cũng là người lính như anh trên một chiến trường. Nhũng con chữ trong những bài lục bát đó, đọc lên nghe ray rứt làm sao. Khi tôi và anh cùng thế hệ. Khi tôi và anh cùng một chiến trường. Khi tôi và anh cũng có những đêm:

      Nửa đêm kẻng dục liên hồi

      Đồi khuya kinh động bóng người bóng ma

      Bóng người súng đạn ba lô

      Bóng ma: từ nhhững huyệt mồ thành chiêm

      (Đêm Xuống Đồi)

      Còn nữa, như trong bài Nước Lên, người lính trận làm sao không có những lần vượt sông. Nhưng với người lính bình thường có nhớ chăng là nhớ những lần vượt sông tấn công mục tiêu như một kỷ niệm. Nhớ thôi. Nhưng với anh lại khác. Thơ đã đi vào đời sống cửa một người lính năm xưa mà tôi biết. Nhưng qua những câu thơ lục bát trong bài Nước Lên, nó không phải là một bài vè để tuyên truyền, mà là nhũng câu thơ rất ư là lãng mạng của một người lính làm thơ. Trong nguy khốn thơ vẫn mang tính lãng mạn. Đó là tính nhân văn mà hầu hết những bài anh đã viết. Tôi thích những câu lục bát này quá đỗi:

      Nước lên, trời thổ mật vàng

      Nửa lan mây núi

      Nửa tràn bãi sông

      Nước lên kéo mặt trời gần

      Khanh vàng lại láng một giòng vàng khanh

      Nước lên, quân lội qua sông

      Đầu thì đội súng, mình trần tay bơi

      Khúc sông vang tiếng nói cười

      Hồn thanh niên bỗng một thời ấu thơ

      Rõ ràng là như thế. Bên kia sông là những bất trắc có thể xảy ra. Chưa biết chừng. Nhưng, những tiếng cười, tiếng nói: Hồn thanh niên bỗng một thời ấu thơ vang trên sông nước. Chết tính sau. Vui cái đã. Vô tư.


      Mười bốn bài thơ anh viết về chiến trường xưa dưới thể loại lục bát ghi lại những địa danh nơi anh hành quân. Ít nhiều gợi lại trong tôi bao nỗi nhớ. Nhiều khi tôi muốn quên đi những địa danh buồn nhiều hơn vui ấy. Nhưng sao hôm nay, dọc lại thấy nhớ vô cùng qua những con chữ. Thật quái dị. Chỉ là những con chữ thôi mà. Nhưng sao đánh động lòng tôi ghê gớm. Như ngày nào thật xa. Gặp nhau nơi phố thị (Qui Nhơn). Anh, đôi kính dầy cộm của người lính lúc nào cũng có sợi dây thun cột hai gọng kính lại với nhau để sau gáy, cho nên chỉ thấy:


      Người ta đeo kính gọng vàng

      Tôi đây đeo kinh cột bằng dây thun


      Đúng. Đó thật là Trần Hoài Thư. Chỉ thiếu cái nón rừng. Không bao giờ dội nón lưỡi trai.


      *


      Về đoạn ba: Nhớ về bạn bè trong khu Sáu. Quy Nhơn. Qua những bài lục bát, dù ngắn, nhưng rất thành thật và chân tình. Những câu thơ viết về bạn bè rất gần gũi và thân thương qua bao năm tháng.


      Qui Nhơn, đối với tôi và anh có nhiều bạn bè lắm. Nhiều kỷ niệm lắm. Hầu hết là những người lính cầm bút. Có những người bạn cầm bút không phải là lính. Thân nhau. Nhưng ít ai nhớ đến ngôi nhà trong Khu Sáu. Nhưng sao, trong khu nhà ấy, rỗng tuếch, chẳng có bàn có ghế, cửa thì chẳng khóa, then cài. Nhưng lạ, những bạn bè vẫn còn có nhau, nhớ nhau. Trên 50 năm rồi mà sao vẫn nhớ về căn nhà ấy. Những người hôm nay đã nằm xuống, như: Nguyễn Phương Loan, Nguyễn Thị Thùy Mỵ (Đặng Hòa), Thái Ngọc San. Còn lại những ai trong căn nhà ma đó. Phạm Cao Hoàng. Trần Hoài Thư. Phạm Văn hàn, ba người định cư tại Mỹ. Còn Lê Văn Trung vẫn miệt mài nơi quê nhà.


      Những bài lục bát anh viết dành cho từng người. Như nói lên nỗi lòng của anh dành cho bạn bè. Rõ nét. Nào Phạm Cao Hoàng với bài: Hành Phương Đông

      Bạn tôi trẻ tuổi tài danh

      Làm sao quên được bài hành phương đông (*)

      Người ta hô hào chiến chinh

      Còn hạn, đi giũa chiến tranh (*) để buồn!

      Câu thơ năm cũ vẫn còn

      Trái tim Khu Sáu vẫn đỏ hồng trong tôi

      Nào Phạm Văn Nhàn với ngôi nhà ma, chẳng ai dám thuê. Thế mà anh em vẫn về trong căn nhà ma đó. Ma sợ. Ma bỏ đi chỉ có mấy người bạn. Hơn 50 năm qua rồi. Một hôm, Nguyễn Lệ Uyên cô dịp ra Qui Nhơn. Anh đón xe ôm chạy vào Khu Sáu, tìm lại căn nhà ma ấy mà chúng tôi thuê để ở. Không côn nữa. Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên nói với tôi như thế. Cho nên, hôm nay, đọc những bài thơ lục bát anh làm cho bạn bè từ ngôi nhà ma ấy trong khu Sáu. Như một kỷ niệm khó quên. Nhớ mãi. Cảm ơn anh đã cho tôi đọc một tác phẩm viết theo thể loại thơ lục bát thật tuyệt vời của một người bạn gắn bó với nhau trên 50 năm. Thăng trầm trong cuộc chiến. Khổ đau trong tù tội. Kiếm sống trên xứ người. Còn nhớ nhau là quý. Phải không Trần Hoài Thư?


      Houston, ngày 9/7/2017. Viết xong vào lúc 1 giờ 40 phút sáng.


      Phạm Văn Nhàn

      Nguồn: Tập thơ "Vịn Vào Lục Bát" của Trần Hoài Thư
      Thư Ấn Quán, 2017

      (*) tựa hai bài thơ rất quen thuộc trước 1975 của PCH



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Vịn Vào Lục Bát Của Trần Hoài Thư Phạm Văn Nhàn Nhận định

      - Một chuyến đi (Trăm lần vui. Vạn lần buồn) Phạm Văn Nhàn Phóng sự

      - Gặp anh Đặng Tiến và đi thăm Trần Hoài Thư Phạm Văn Nhàn Ký sự

      - Chuyến Đi Về Quê Qua Những Chẳng Đường Với Bạn Bè Phạm Văn Nhàn Ký sự

      - Hai Câu Thơ Viết Trên Vách (viết về nhà thơ Lê Văn Trung) Phạm Văn Nhàn Nhận định

      - Viết về những người bạn 'Ý Thức' Phạm Văn Nhàn Tạp bút

      - Hành Trình Của Một Cổ Trắng (White Collar) Phạm Văn Nhàn Tạp bút

    3. Link (Tran Hoai Thu)

       

      Bài viết về Trần Hoài Thư

       

      Vịn Vào Lục Bát Của Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      Ra Biển Gọi Thầm: Niềm Đau Của Thế Hệ Lớn Lên Trong Thời Chiến (Lê Tạo)

      Trần Hoài Thư - Người Lính Và Nỗi Buồn Chiến Tranh (Đỗ Xuân Tê)

      Đọc "Truyện Từ Văn" của Trần Hoài Thư (Hoàng Ngọc Hiển)

      Hành Trình Của Một Cổ Trắng (White Collar) (Phạm Văn Nhàn)

      Lang Thang ... Quán (Nguyễn Lệ Uyên)

      Ngồi "Quán" Với Trần Hoài Thư (Lê Văn Trung)

      Qui Nhơn, Bình Định trong thơ người lính Trần Hoài Thư (Nguyễn Mạnh An Dân)

      Trần Hoài Thư, người khâu di sản (Trần Doãn Nho, nguoi-viet.com)

      Trần Hoài Thư, ngọn cờ đầu: nỗ lực xiển dương 20 năm văn chương miền Nam: 1, 2, 3.(Du Tử Lê, nguoi-viet.com)

      Trần Hoài Thư, 'hiệp sĩ lẻ loi' của văn chương miền Nam

       (Ðỗ Dzũng, nguoi-viet.com)

      Qua Ô CỬA của Trần Hoài Thư, Nghĩ và Viết Về Thơ Chiến Tranh Miền Nam (Phan Bá Thụy Dương, vnthuquan.net)

      Trò chuyện cùng Trần Hoài Thư về Thư Ấn Quán & Thư Quán Bản Thảo (Trần Doãn Nho, damau.org)

      Nhà văn Trần Hoài Thư và tác phẩm “Văn Miền Nam Thời Chiến” (Mặc Lâm phỏng vấn, rfa.org)

      Trần Hoài Thư và Châu Hải Châu (luanhoan.net)

      Trang Trần Hoài Thư (art2all.net)

      Tiểu sử tóm tắt (hocxa.com)

       

      Tác phẩm

       

      - Số báo cuối cùng của Ba Tạp Chí Văn Học Miền Nam (Trần Hoài Thư)

      - Hình như cây súng con lạ lắm (Trần Hoài Thư)

      - Vãn Hóa Nguyệt San: Một bảo tàng viện vãn hóa (Trần Hoài Thư)

      - Hồi Phục Một Di Sản Văn Chương (Trần Hoài Thư)

      - Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

      - Hành Trình Tạp Chí Văn Học (Trần Hoài Thư)

      - Trần Thiện Đạo: Khi nghĩa tử không là nghĩa tận... (Trần Hoài Thư)

      - Lưu Biệt và tính phổ quát trong thơ Phạm Ngọc Lư (Trần Hoài Thư)

      - Bán nguyệt san Mai (1960-1966) (Trần Hoài Thư)

      - Giới Thiệu Tạp Chí Nghệ Thuật (Trần Hoài Thư)

      Rong Bút, Trang Thơ

      Tản Mạn Về Võ Hồng

      Đọc một bài thơ "lục bát mới" trước 1975 của Thành Tôn,

      Nhà Văn Trẻ Ấy Bị Thương,

      Đi tìm “bài thơ trên xương cụt” của Chinh Ba ,

      Trần Phong Giao và những người viết trẻ,

      Ý Thức Và Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang,

      Đi tìm Vũ Hữu Ðịnh ở Mỹ (Tạp bút)

       

      Gò Bồi Bên Kia Sông,

      Ra Biển Gọi Thầm,

      Thủ Đức Gọi Ta Về,

      Thám Báo,

      Ngày cuối cùng của một cổ trắng

      Mưa Mùa Hạ

      Làng Xóm Buồn Thiu

       

      Thư Quán Bản Thảo

      Tạp chí Văn học Nghệ thuật phát hành bất định kỳ, tập 1 (tháng 10-2001), tập 45 (tháng 1-2011), nhóm chủ trương: Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn, Trần Bang Thạch, Cao Vị Khanh, NG~.

      Ðịa chỉ P.O Box 58, South Bound Brook, NJ 08880.

      Email: tranhoaithu@verizon.net

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Nhà Văn Lữ Quỳnh Viết Truyện Phản Chiến Ở Vị Trí Và Bối Cảnh Nào? (Trần Văn Nam)

      - Hương Trinh đã tan rồi! (Lê Hữu)

      - Vịn Vào Lục Bát Của Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Mấy Tháng Cuối Cùng Với Vũ Hoàng Chương

      (Mai Thảo)

      - Đọc quyển Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký với lời chú giải của Nguyễn Văn Sâm (Trần Văn Chánh)

      - Trương Vĩnh Ký, người giữ lửa cho tiếng nói Nam Kỳ (Nguyễn Văn Sâm)

      - Ngữ-Vựng Tiếng Việt của Giáo sư Trần Ngọc Ninh (Đàm Trung Pháp)

      - Phỏng vấn nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách

      (Lê Thanh)

      - Những Hồi Ức Buồn: Đọc Thơ Lữ Quỳnh (Khuất Đẩu)

      - Bên Ly Cà Phê, Ly Rượu... Thấp Thoáng Bóng Lữ Quỳnh (Nguyễn Lệ Uyên)

      - Nhà Thơ Hồ Đình Phương và Sự Nghiệp Âm Nhạc Hoàng Trọng (Du Tử Lê)

      - Dòng Thơ Chính Khí thời tiền chiến: Nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) (Viên Linh)

      - Thi Sĩ Đinh Hùng Người Làm Thơ Tình Kiệt Xuất

      (Huyền Viêm)

      - Tìm hiểu tác giả Nguyên Phong, con người ẩn danh đã dịch nhiều cuốn sách hay (Phan Lạc Tiếp)

      - Cung Trầm Tưởng – Tình sâu nghĩa nặng

      (Bùi Ngọc Tuấn)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Dẫn Lược Từng Chương Tiểu Thuyết Danh Tiếng của Thomas Hardy (Trần Văn Nam)

      - Một chuyến đi (Trăm lần vui. Vạn lần buồn) (Phạm Văn Nhàn)

      - Viết về Duyên (Đỗ Xuân Tê)

      - Hình như cây súng con lạ lắm (Trần Hoài Thư)

      - Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

      - Bằng Hữu, Thật Sống Đủ Ngay Đây (Phan Nhật Nam)

      - Gặp anh Đặng Tiến và đi thăm Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Những Giải Thưởng Văn Chương Trên Nước Việt (Nguiễn Hữu Ngư)

      - Đứng Trước Thực Tại (Lý Hoàng Phong)

      - Tản Mạn Về Tính Nhân Bản Trong Thi Ca Miền Nam Thời Chiến (Trần Hoài Thư)

      - Nhận Định Về Thơ Hậu Chiến (Lê Huy Oanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      - Cuộc Phỏng Vấn Văn Nghệ (Nguyễn Ngu Í)

      - Đi tìm nguồn cội (Nguyễn Xuân Hoàng)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      ,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Duy Liêm,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hồ Đình Phương,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)