1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Viên Linh (Võ Phiến)
      11-03-2015 | VĂN HỌC

      Viên Linh

       VÕ PHIẾN


           Nhà thơ Viên Linh

      Hồi 1982, khi cuốn Thủy mộ quan vừa xuất bản, đọc sách xong, nhân dịp viết thư cho Thanh Nam, tôi thắc mắc: Có bài thơ hay tôi đã biết qua, không hiểu sao Viên Linh loại bỏ không cho vào thi tập này, uổng quá. Chẳng hạn bài “Nhớ Sài Gòn” mà tác giả đã cho nghe qua điện thoại năm 1975, khi tôi còn sống ở Minneapolis, với hai câu đầu:

      Đêm qua mơ thấy Sài Gòn

      Gối đầu trên sách, gáy mòn tận xương.

      Thanh Nam cho rằng “Viên Linh làm thơ quá kỹ, mỗi lần đăng lại thơ là một lần sửa lại” (Thư ngày 25-9-82). Như vậy có nghĩa là sau khi làm ra thơ, ông chọn lọc, sửa chữa và có khi còn bỏ luôn bài nọ bài kia không vừa ý?

      Trước đó tôi chưa bao giờ biết chuyện Viên Linh tự sửa thơ mình kỹ như thế nào. Sau lá thư của Thanh Nam, tôi tò mò tìm hiểu. Quả như lời Thanh Nam nói. Tháng 3-1976, Viên Linh có gửi cho xem một bài thơ mới làm xong ngày 2-1-76, tức bài ‘Hương’. Đoạn đầu thế này:

      Xa nhau, thôi nhé tuổi vàng

      Lá rơi trên tuyết hồn tan dưới đường

      Nhớ gì nơi ấy — cố hương

      Tóc xanh em gái, dặm trường trung du.

      Lộ cao con mắt sương mù

      Hồn xa Nam bộ mùa thu có về?

      Về sau, khi được in vào Thủy mộ quan, bài thơ nọ xuất hiện dưới hình thức như sau:

      Cố hương


      Xa nhau thôi nhé thu vàng

      Lá rơi trên tuyết lòng tan dưới đường

      Nhớ gì nơi ấy cố hương

      Tóc xanh em gái dặm trường trung du.

      Lộ cao con mắt sương mù

      Hồn xa Nam bộ mùa thu có về?

      Nhan đề bị đổi, nhiều chữ thay đổi, nhiều dấu chấm câu bỏ đi, cách phân đoạn cũng khác trước.


      Thơ sửa quá kỹ, Thanh Nam bảo có những bài đọc lần đầu “thích thú vô cùng”, sau sửa đổi đọc lại “thấy mất đi cái cảm giác tươi mát”. Lê Huy Oanh viết về thơ Viên Linh cũng nhấn mạnh “được viết rất kỹ, rất công phu”, và cũng ghi nhận là “không hiếm những lúc cái tân kỳ bị thay thế bởi sự cầu kỳ nó khiến cho bài thơ thành ra (...) thiếu tự nhiên.”


      Cái quá kỹ (cũng như cái quá ẩu và mọi cái quá khác) có thể có chỗ đáng tiếc và tất nhiên có chỗ đáng khen của nó. Nhân đó, lại xin kể về thời kỳ mới bỏ nước ra đi, Viên Linh ở tiểu bang Virginia, tôi phiêu dạt sang tiểu bang Minnesota. Các mùa đông đầu tiên ở Bắc Mỹ, trong tuyết giá lạnh lẽo, trong cảnh buồn nhớ quê hương, thỉnh thoảng tôi gọi điện thoại sang, yêu cầu Viên Linh đọc thơ cho nghe, những bài thơ ông mới làm chưa đăng báo nào. Một lần người anh thi sĩ ấy đọc bài thơ thương nhớ người em tu sĩ còn kẹt lại trong nước, với mây câu chót:

      Mưa đưa tôi lại Sài Gòn

      Trán căng nhiệt đới hồn còn Đông Dương

      Gặp em trở lại lầu chuông

      Dang tay nện xuống hư không một chày.


      Chuông không tiếng đã bao ngày

      Nghe quen em tưởng chiều đầy âm thanh.

      (‘Lầu chuông’)

      Ngẫm lại, trong tâm hồn hoang dã của mình chưa mấy khi vang lên tiếng chuông tiếng mõ; thế mà lần ấy cái âm hưởng gây nên do một chày nện xuống hư không ở lầu chuông nọ ngân nga mãi, thấm thía mãi thật lâu bền. Tôi có cảm tưởng đó là nhờ ở cái tử công phu, cái quá kỹ của nhà thơ, có cảm tưởng rằng tứ thơ độc đáo đã được hàm dưỡng, ấp ủ nhiều ngày đến chín muồi trong tâm tưởng và được diễn đạt trong từng chữ cân nhắc thận trọng, chứ không thể là kết quả của một phóng bút nhanh nhẹn, “tự nhiên”.

      Sở trường sở đoản của Viên Linh quấn quít nhau như thế.


      Ở Viên Linh còn một điều không thể bỏ qua, là cái mưa.

      Có thể nói mưa tuôn liên miên trong cả thơ Viên Linh lẫn cuộc đời Viên Linh.


      Mưa xa cách:

      Cơn mưa chia biệt tháng ngày

      Vẫn rơi tầm tã lòng này đêm đêm.

      (‘Lầu chuông’)

      Mưa suốt từ thuở ấu thơ đến giờ:

      Lá vàng cọng uá trên cây

      Đời mưa tự những vừng mây thiếu thời.

      (‘Tâm ảnh’)

      Mưa dưới... âm ty (!):

      Chiều nay mưa dưới âm ty

      Ta nghe kiếp trước thầm thì hỏi han.

      (‘Thơ bệnh’)

      Mưa trên các cuộc tình:

      Nhớ em rồi Cúc Hoa xưa

      Đêm nay dưới ngói trời mưa tầm tầm.

      (‘Đêm trường’)

      Trong thi ca xưa nay vẫn có mưa, thường là mưa vừa đủ nhẹ để gây mơ, để nên thơ, đủ làm mờ chân trời, đủ dấy lên nỗi nhớ nhung man mác v.v... Trong thơ Viên Linh thì không thế. Đây là mưa tầm mưa tã, mưa xối mưa xả. Mưa làm chìm ngập hết những ảo tưởng của nhân thế. Cái mưa như thế mà xối xuống những cuộc tình duyên thì... ôi thôi! Trong thơ Viên Linh không hề có thứ ái tình hồn nhiên tươi sáng như trong Nguyễn Nhược Pháp, đã đành. Cũng không có tình thơ tình mộng như ở Lưu Trọng Lư, không có thứ tình nồng nàn cuồng nhiệt như ở Xuân Diệu, không phải thứ tình cay đắng đầy uất hận của Vũ Hoàng Chương. Thậm chí nó cũng không thất bại một cách lãng mạn, văn vẻ như trong thơ Nguyễn Bính.

      Ở thơ Viên Linh, ái tình trong mưa là những cuộc tình duyên khó khăn, trắc trở, ngang trái. Những cuộc tình duyên mệt mỏi và hẩm hiu. Những gần gũi nặng trĩu ưu tư, chất chứa ẩn ức kỳ bí. Trong các mối tình ấy, mưa cứ triền miên như sự đeo đuổi của số kiếp nghiệt ngã.


      Chắc chắn, các nhà phê bình căn cứ vào chủ đề (critique thématique) trong trường phái Paul Weber chẳng hạn sẽ khai thác ý nghĩa phong phú của cái mưa Viên Linh, sẽ lần dò tìm đến cội nguồn của ám ảnh từ thuở bé của thi sĩ, sẽ tìm thấy bao nhiêu là chuyện thâm thúy, hay ho. Như đã tìm thấy ở những con thiên nga trong hồ của Valéry, ở con chim thảm thiết của Mallarmé, ở chiếc quả lắc đồng hồ của A. de Vigny, ở khung trời rực đỏ của Hugo, ở bầu sữa đắng cay của P. Claudel, v.v...

      Cái ý hướng vô thức nọ (intentionnalité ỉnconsciente) của nó là thế nào, chúng ta chưa truy tầm được. Chỉ biết thưởng thức cái sức mạnh của nó truyền vào những câu thơ đẹp đẽ.


      Ông Lê Huy Oanh cho rằng “'Đêm trường’ là một trong những bài thơ tuyệt tác.” Tôi chịu ông quá. Trong ‘Đêm trường’ có cả cái quá kỹ, cái tân kỳ táo bạo, lẫn cái ám ảnh của cơn mưa từ trong tiềm thức, của một bí ẩn có thể truyền cho nghệ phẩm sức sống lâu dài.


      Ngoái nhìn lại, tôi thấy mình đã trích dẫn, đã dựa dẫm vào Lê Huy Oanh nhiều quá. Quả thực không mấy khi đọc phê bình mà khoái như khi gặp bài của ông Lê. Ông đọc kỹ, nhận xét tinh, và nói thì thẳng băng. Ông khen bài này tuyệt tác, bài kia là kỳ tác. Ông bảo toạc ra tác giả này ông rất thích nhưng “có cả trăm bài luộm thuộm, dở đến không chịu nổi”, tác giả nọ tài lắm nhưng có những chỗ “rất nhàm tai” v.v... Ông Lê như thế, không mê ông sao được. Ông thành thực, sốt sắng đến nỗi có lúc ông định sửa cả nhan đề bài thơ hộ tác giả. Chẳng hạn bài ‘Đêm trường’ của Viên Linh, ông muốn thi sĩ gọi tên bài là ‘Cúc Hoa’. Chỗ này thì tôi xin can. Thôi, ông ạ. Chúng ta là người ngoài, đừng nên can thiệp “kỹ” quá.


      Ngoài ra Lê Huy Oanh còn bảo “Lục bát Viên Linh quả thật có nhiều chỗ có sức quyến rũ mạnh mẽ.” Tôi lại chịu nữa. Ông Lê bảo một tác giả có được chừng mười bài thơ hay đã là quí giá lắm rồi, huống hồ thơ xuất sắc của Viên Linh được nhiều hơn con số đó. Tôi cũng lại chịu nữa.


      2 -1993

      Võ Phiến

      Văn Học Miền Nam - Thơ, trang 3155-3166
      (Văn Nghệ, 1999)

      CHÚ THÍCH:


      — Các chỗ trích dẫn Lê Huy Oanh trong bài nhận xét đều lấy từ bài phê bình thi tập Thủy mộ quan của Viên Linh đăng ở báo Đồng Nai số ra ngày 25-8-1983 ở Caliíornia.

      — Các bài thơ trích tuyển đều lấy từ phần “Dư tập” của Thủy mộ quan là phần dành cho những bài thơ đã đăng báo ở trong nước trước 1975 tại Việt Nam, ngoại trừ bài “Lầu chuông”. Bài sau này viết ở hải ngoại sau 1975, lẽ ra không nên có mặt trong sách, tuy nhiên được trích dẫn là để làm sáng tỏ thêm ý kiến trong một đoạn ở bài nhận xét trên đây.

      ĐÊM TRƯỜNG


      Nhớ em rồi Cúc Hoa xưa

      Đêm nay dưới ngói trời mưa tầm tầm

      Nhớ em vèo cái thu âm

      Hồn theo bóng ngoại phân thân chín từng.


      Nhớ em ly rượu còn lưng

      So đôi đũa mộc cười bừng cơn say

      Phải anh rồi phải anh đây

      Bữa cơm hai bóng một ngày phần dương.


      Nhớ anh chưa Cúc mắt vàng

      Cúc xanh mi Cúc biếc hường trái tim

      Cúc đen đâu đó Cúc mềm

      Vùi anh trong bụng Cúc hiền như dao.


      Năm năm đời trú mái sầu

      Thời gian phai nhạt những màu yêu đương

      Nhớ em lần lữa chiếu giường

      Đêm nay lại một đêm trường như xưa.


      SINH NHẬT


      Hôm nay năm tận, Sài Gòn

      Tôi nghe khiếp hãi tâm hồn già nua

      Giật mình con quỉ ban trưa

      Tiếc mùa hoan lạc hái chưa đủ hời.


      Hôm nay trời đất có tôi

      Trên ba mươi tuổi làm người lãng quên

      Xuân hồng, một góc thiếu niên

      Năm năm mê mải những miền hoài nghi.


      Trên ba mươi tuổi ù lỳ

      Đêm về kéo cửa ngày đi kiếm mình

      Cảnh đời, một cõi u minh

      Cảnh tôi thấp thoáng bóng hình những ai.


      U mê hết tháng năm dài

      Chân trong lối kiệt hồn ngoài bến không

      Hôm nay năm tận, bàng hoàng

      Giục thêm tiệc rượu ngồm ngoàm đĩa vơi.


      Nhìn ra cảnh cỗi, riêng tôi

      Trong hiên viễn phố thấy đời buồn lây.


      THƠ BỆNH


      Lúc này hình đất tượng cây

      Đời ta như nước chảy đầy bãi xa

      Chiều rồi lòng mở không ra

      Mênh mông trong ngực mùa hoa hải tần.


      Khói um kín mộng thanh tân

      Hình ta sụp đổ mấy lần trong gương

      Bên kia bóng vội lên đường

      Đằng sau mặt thủy trùng dương sóng dồi.


      Nước xa cuồn cuộn ra khơi

      Sâu trong tâm thể có đôi giọt gần

      Bãi sầu trời ngập đến chân

      Dương gian la lún nửa thân còn gì.


      Chiều nay mưa dưới Âm Ty

      Ta nghe kiếp trước thầm thì hỏi han.


      LầU CHUÔNG


      Tháng Tư úng thủy đầu mùa máu tuôn

      Tặng em tôi, Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu, để nhớ những ngày Vạn Hạnh


      Nhận tin em một năm rồi

      Thành xưa đã đổi con người đã thay

      Cơn mơ chia biệt tháng ngày

      Vẫn rơi tầm tã lòng này đêm đêm.


      Mưa lầy con phố bôi tên

      Em chôn tầm vóc thanh niên giữa đời

      Nhớ em biển sách làm khơi

      Thả thân trôi giạt với lời muôn phương.


      Nhớ em đêm tựa lầu chuông

      Rung con tim nhỏ nghìn đường âm thanh

      Em yêu lá ở trên cành

      Yêu chim trong gió yêu thành vắng quân.


      Em yêu miếu mộ linh thần

      Yêu đầu không mũ yêu chân lột giầy

      Yêu người không thiết đi dây

      Yêu nhà văn hóa đi Tây lại về.


      Em yêu lòng trúc ý tre

      Yêu kinh vô tự như bè yêu sông

      Em yêu Camus lạnh lùng

      Đạt Ma qua biển Ngộ Không giữa trời.


      Yêu anh phóng đãng lầm nơi

      Văn chương sai lúc thân dơi lộn chiều

      Em yêu cuộc sống em yêu

      Lầu chuông gác sách mộng điều tuổi xanh.


      Hôm nay túi vải bên mình

      Em tôi bán dạo trong thành phố quen

      Ầm vang trong trí cơn điên

      Ném thân anh giạt tới miền hư sinh.


      Hơn ba mươi, mộng tan tành

      Tay xương quét lệ hoen quanh mắt mờ

      Thấy em lầm lũi hơn xưa

      Loanh quanh ngõ dưới dật dờ lối trên


      Em tôi không sách không đèn

      Một đầu tư tưởng bôi lem nghĩa đời

      Đêm nay tầm tã mưa rơi

      Tỉnh ra tôi thấy mặt trời trắng tinh.


      Thấy trăng mọc lúc bình minh

      Thấy người lưu xứ lênh đênh Quê Nhà

      Thấy tôi đập kính soi hoa

      Trên cây nhân thế la đà trái đen.


      Thấy tôi nguyền rủa thánh hiền

      Cầm dao giết Phật giả điên đốt chùa

      Nhớ mưa xưa nhớ mưa xưa

      Tháng Tư úng thủy đầu mùa máu tuôn.


      Mưa đưa tôi lại Sài gòn

      Trán căng nhiệt đới hồn còn Đông Dương

      Gặp em trở lại Lầu Chuông

      Dang tay nện xuống Hư Không một chày.


      Chuông không tiếng đã bao ngày

      Nghe quen, em tưởng chiều đầy âm thanh.


      Washington D.C., 1979

      (Trong Thủy Mộ Quan, thi phẩm Viên Linh, Virginia 1982)



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Nhà Văn Võ Phiến Tạp luận

      - Luân Hoán Võ Phiến Nhận định

      - Đinh Hùng Võ Phiến Nhận định

      - Viên Linh Võ Phiến Khảo luận

      - Văn Học Miền Nam Tổng Quan (Lời Nói Đầu) Võ Phiến Khảo luận

      - Nguyên Sa Võ Phiến Tạp bút

      - Tiểu Thuyết Võ Phiến Khảo luận

      - Tạp chí Bách Khoa Võ Phiến Tạp luận

      - Nguyễn Bắc Sơn Võ Phiến Khảo luận

      - Vũ Hữu Định Võ Phiến Khảo luận

    3. Bài Viết Về Viên Linh)

       

      Bài viết về Viên Linh

       

      Viên Linh Trên Những Chặng Đường Thơ (Huỳnh Hữu Ủy)

      Độc giả và những người làm một tạp chí văn chương (Trần Phong Giao)

      Khởi Hành cùng nhà thơ Viên Linh qua 20 năm (Quốc Dũng)

      Sách mới phát hành: “Tác giả, Tạp chí: Nói và Viết với 40 Nhà văn Hiện đại” - Tá (Người Việt)

      Viên Linh (Võ Phiến)

      Đọc thơ Viên Linh (Lê Huy Oanh)

      Đọc thơ Viên Linh (Nguyên Sa)

      Biển Đông Huyền Ảo Trong Thơ Viên Linh (Trần Văn Nam)

      Cầu Hiền Lương (Đặng Tiến)

      Khởi Hành: Nơi Gìn Giữ Nền Văn Học Tự Do (Vũ Ánh)

      Thơ Viên Linh của thời lưu vong thất tán 1, 2.
       (Huỳnh Hữu Ủy, talawas)

      Thể loại văn truyện nhiều chất xã-hội-tính (tân truyện và tiểu thuyết) (Trần Văn Nam, talawas.org) 

      Viên Linh – Làm báo văn nghệ ở miền Nam trước tháng Tư 1975 (Phan Nhiên Hạo phỏng vấn, litviet.com)

      Phỏng vấn nhà thơ Viên Linh về giải thưởng do báo Khởi Hành khởi xướng (Mặc Lâm, rfa.org)

      Tiểu sử tóm tắt (trích Chiêu Niệm Văn Chương)

       

      Tác phẩm

       

      - Nguyễn Thị Hoàng, tuyển truyện 12 tác giả

      (Viên Linh)

      - Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại Của Huỳnh Hữu Ủy (Viên Linh)

      - Vài tác giả của tạp chí Tư Tưởng (Viên Linh)

      - Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Vỹ (Viên Linh)

      - Mục Tạp Ghi và ký giả Lô Răng (Viên Linh)

      - Anh lùn cạnh nhà thờ Đức Bà (Viên Linh)

      - Giỗ đầu, nhớ Thái Văn Kiểm (Viên Linh)

      - Nhà văn Việt Nam nói về Xuân đầu ở Mỹ, 40 năm trước (Viên Linh)

      - Họa sĩ Duy Thanh, Nhà Văn (Viên Linh)

      - Mặc Đỗ Đổi Mới (Viên Linh)

      Tình nước mặn,

      Thị trấn miền đông (talawas), (bản ebook).

       

      Khởi Hành

      Tạp chí Văn học Nghệ thuật Lịch sử Nhận định Biên khảo Sáng tác Sinh hoạt, Số 1 (tháng 11.1996), Số 171+172 (tháng 1-2.2011), Chủ nhiệm, Chủ bút: Viên Linh.

      Ðịa chỉ P.O Box 670, Midway City, CA 92655.

      Email: phamcongkh@yahoo.com

      Website: http://www.khoihanh.com/

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Thái Văn Kiểm (Lãng Nhân)

      - Xuân Vũ: Cây bút lớn trui rèn với kinh nghiệm sống (Lê Văn Lân)

      - Nhìn Lại Một Năm Văn Chương Hải Ngoại

      (Nguyễn Mộng Giác)

      - Nhà Văn (Võ Phiến)

      - Nỗi Băn Khoăn Của Một Người Cầm Bút (Võ Đình)

      - Đầu năm nói chuyện thơ (Trần Long Hồ)

      - TchyA (Lãng Nhân)

      - TchyA Đái Đức Tuấn (Nguyễn Vỹ)

      - Một bài thơ xuân mang nhiều ý nghĩa của thi sĩ Đông Hồ (Trần Từ Mai)

      - Cảnh Tết Xưa (Tạ Quốc Tuấn)

      - Loanh Quanh Chuyện Tết Nhứt (Trần Bang Thạch)

      - Nguyễn Thị Hoàng, tuyển truyện 12 tác giả

      (Viên Linh)

      - Cửa Thiền Nào Chốn Hỏi Mai Hoa (Thái Văn Kiểm)

      - Mùa Xuân Nói Chuyện Hoa (Lưu Khôn)

      - Giới thiệu tạp chí VĂN HÓA NGUYỆT SAN

      (Nguyễn Tuấn Cường)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

      - Bằng Hữu, Thật Sống Đủ Ngay Đây (Phan Nhật Nam)

      - Gặp anh Đặng Tiến và đi thăm Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Những Giải Thưởng Văn Chương Trên Nước Việt (Nguiễn Hữu Ngư)

      - Đứng Trước Thực Tại (Lý Hoàng Phong)

      - Tản Mạn Về Tính Nhân Bản Trong Thi Ca Miền Nam Thời Chiến (Trần Hoài Thư)

      - Nhận Định Về Thơ Hậu Chiến (Lê Huy Oanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      - Cuộc Phỏng Vấn Văn Nghệ (Nguyễn Ngu Í)

      - Đi tìm nguồn cội (Nguyễn Xuân Hoàng)

      - "Chúng ta đi mang theo Văn học Miền Nam": Trường hợp tạp chí Khởi Hành Bộ Mới... (Nguyễn Tà Cúc)

      - Các ý nghĩ từ một buổi sinh hoạt văn học

      (Phạm Phú Minh)

      - Hiện trạng văn học miền Nam sau 1975 ở miền Nam và ở Hải ngoại (Nguyễn Văn Lục)

      - Những Ý Kiến Chung Quanh 20 Năm Văn Học Miền Nam (Nguyễn Lệ Uyên)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hoài Khanh,  Hoàng Khởi Phong,  Hoàng Ngọc Hiển,  Hoàng Xuân Sơn,  Huỳnh Hữu Ủy,  Khoa Hữu,  Lâm Chương,  Lâm Hảo Dũng,  Lâm Vị Thủy,  Lê Hữu,  Lê Văn Trung,  Luân Hoán,  Mặc Đỗ,  Mai Thảo,  Ngô Nguyên Nghiễm,  Nguyễn Âu Hồng,  Nguyễn Bắc Sơn,  Nguyễn Lệ Uyên,  Nguyễn Mạnh Côn,  Nguyễn Ngọc Tư,  Nguyễn Phan Thịnh,  Nguyên Sa,  Nguyễn Tất Nhiên,  Nguyễn Thị Hoàng,  Nguyễn Thị Thanh Bình,  Nguyễn Thị Thuỵ Vũ,  Nguyễn Văn Sâm,  Nguyễn Vỹ,  Nguyễn Vy Khanh,  Nguyễn Xuân Hoàng,  Nguyễn Xuân Thiệp,  Nguyễn Đức Sơn,  Nhật Tiến,  Nhất Tuấn,  Phạm Cao Hoàng,  Phạm Ngọc Lư,  Phạm Phú Minh,  Phan Lạc Phúc,  Phan Nhật Nam,  Phan Trang Hy,  Phùng Cung,  Phùng Thăng,  Sơn Nam,  Tâm Thanh,  TchyA,  Thái Văn Kiểm,  Thanh Nam,  Thanh Tâm Tuyền,  Thảo Ca,  Tiểu Tử,  Tô Thùy Yên,  Trần Hoài Thư,  Trần Mộng Tú,  Trần Phù Thế,  Trần Thúc Vũ,  Trần Tuấn Kiệt,  Trần Văn Nam,  Trần Yên Hòa,  Trịnh Y Thư,  Từ Thế Mộng,  Viên Linh,  Võ Phiến,  Vũ Hữu Định,  Vũ Khắc Khoan,  Xuân Thao,  Xuân Vũ,  Y Uyên,  Đặng Phú Phong,  Đào Anh Dũng,  Đỗ Quyên,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)