1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Dòng Thơ Chính Khí thời tiền chiến: Nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) (Viên Linh)

      25-8-2017 | VĂN HỌC

      Dòng Thơ Chính Khí thời tiền chiến: Nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950)

       VIÊN LINH


        Nhà thơ Thâm Tâm
         (1917 - 18.8.1950)

      Thâm Tâm là một trong tam anh thời tiền chiến, bên cạnh Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Họ là ba người bạn thơ thân nhau nhất.


      Nếu Xuân Diệu cùng nhóm Tự Lực Văn Ðoàn mang vào văn học thời đó tình đôi lứa với những ảnh hưởng Tây Phương chói chang, trong âm thanh sình sịch của “ô-tô,” thì Thâm Tâm và hai bạn sống với không khí hào sảng của võ hiệp, không thực sự kiếm cung nhưng đến với đời bằng bút mực giang hồ, khổ công lập thân từ văn chương, lui tới với nhau bằng chữ nghĩa. Tình đôi lứa quấn quýt trong Xuân Diệu và các thi sĩ lãng mạn, tình “tứ hải giai huynh đệ” bát ngát trong Thâm Tâm. Bài Tống Biệt Hành của ông là bài thơ về tình bạn và tình bạn thời đại có một không hai trong Thi Ca Việt Nam thời Tiền Chiến: trong tình bạn này, gia đình bị bỏ lại bên ngoài. Trong bài thơ này, tâm thức nhiệt tình của trai thời thế, ngôn ngữ khí khái của người ngang dọc, thật hiếm hoi, đã thấy hiện lên bập bùng ngọn lửa từ một bó đuốc, thứ lửa khơi dậy giữa đồng, và lửa cháy trong lòng, trong huyết quản, của những cuộc đời đầy mộng tưởng bôn ba trong một miền sông núi cuồn cuộn chuyển mình:

      Tống Biệt Hành


      Ðưa người ta không đưa sang sông

      Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

      Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

      Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

      Ðưa người, ta chỉ đưa người ấy

      Một giã gia đình, một dửng dưng...

      - Ly khách!

      Ly khách! Con đường nhỏ

      Chí lớn không về bàn tay không,

      Thì không bao giờ nói trở lại!

      Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

      Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước:

      Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

      Một chị, hai chị cũng như sen

      Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

      Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay:

      Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

      Em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc

      Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...


      Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

      Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

      Chị thà coi như là hạt bụi,

      Em thà coi như hơi rượu say.


      1940

      Bài này Thâm Tâm làm trong một tiệc rượu để tặng một người bạn đi kháng chiến trước ông, tên là Phạm Quang Hòa. Bữa tiệc do ông Hòa khoản đãi, có mời thêm hai người khác của nhóm tam anh, là Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Trong cuốn “Thâm Tâm và T.T.KH.” do nhà xuất bản Hội Nhà Văn in năm 1991 ở Hà Nội, tác giả Hoài Việt viết như sau, theo lời kể lại của ông Hòa: “Ngày ra đi, bác có mời Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính cùng uống rượu chia tay. Buổi đó, ba nhà thơ đều có làm thơ tiễn bác... Bài Tống Biệt Hành chính là do Thâm Tâm viết để tặng bác. Cũng theo bác, bài đó có 4 câu cuối mà không hiểu sao tất cả các bản in từ trước tới nay đều bỏ sót.” (Thâm Tâm và T.T.KH trang 67-68). Bốn câu ấy như dưới đây, có đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, năm 1940, mà khi in ở trong Thi Nhân Việt Nam năm 1941, không thấy hai ông Hoài Thanh Hoài Chân chép vào:

      Mây thu đầu núi gió lên trăng

      Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm

      Ly khách ven trời nghe muốn khóc

      Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm.

      Chính do việc tác giả Thi Nhân Việt Nam bỏ đi 4 câu chót, mà sự truyền tụng sau này về bài Tống Biệt Hành đã thiếu sót. Cuộc tiễn đưa không diễn ra nơi một bờ sông, mà lại có tiếng sóng ở trong lòng, cho nên bờ sông ấy chỉ có, chỉ hiện lên giữa bốn người bạn quanh bàn rượu: Con sông Dịch, nơi Kinh Kha biệt Yên Ðan, vào Tần mưu việc lớn. Chia tay hôm nay nhưng lòng sống với Sử cũ. Cuộc phân ly không phải giữa hai người tình, đây là cuộc ly biệt gia đình. Người trai trong nhà dứt áo ra đi, bỏ lại những người đàn bà thương nhớ nhất: người mẹ, các chị và em gái. Mẹ âm thầm không nói. Chị khuyên nhủ đôi lời. Em gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay. Thế mà anh ta đi thực. Anh ta lo nghĩ lâu rồi, anh ta buồn từ chiều hôm trước, không phải anh ta mới nhất quyết vào sáng hôm nay...


      Vọng Nhân Hành là một bài khác của Thâm Tâm nói rõ hơn nữa về tình bạn, và tình bạn thời đại. Mấy người trai tráng gặp nhau, mỗi người một chí, người nào cũng muốn “làm một cái gì” cho cuộc đời, cho đại sự. Thơ Thâm Tâm trong dòng cảm xúc này, gần với những tấm gương “giang hồ khí cốt” của các anh hùng Lương Sơn Bạc, những giấc mộng lấp biển vá trời của thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tầu.

      Vọng Nhân Hành


      Thăng Long đất lớn chí tung hoành

      Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh

      Một lứa chung tình từ tứ chiếng

      Hội nhau vầy một tiếc quần anh.


      Mày gươm nét mác chữ nhân già

      Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa

      Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt

      Chưa ngất men trời hả rượu cha.


      Rau đất cá sông gào chẳng đủ

      Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba

      Rằng: “Ðương gió bụi thì tơi tả

      Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta!”


      Thơ ngâm giở giọng, thời chưa thuận

      Tan tiệc quần anh, người nuốt giận

      Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay

      Vuốt cọp, chân voi còn lận đận.


      Thằng thí cho nhàm sức võ sinh

      Thằng bó văn chương đôi gối hận

      Thằng thư trói buộc, thằng giã quê

      Thằng phấn son nhơàchửa một về!


      Sông Hồng chẳng phải xưa Sông Dịch

      Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”


      Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu

      Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê

      - Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt

      Chẳng đọc thơ ta tất cũng về.

      (Tiểu Thuyết Thứ Bảy, 1944)

      Thơ làm theo thể hành, là thể khẩu khí khích động, gần với hịch. Hịch dành cho quân sĩ, hành dành cho lãng tử, anh hùng. Nhận định về bài Tống Biệt Hành, hai anh em Hoài Thanh Hoài Chân viết trong Thi Nhân Việt Nam: “Ðiệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bay giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.” (Thi Nhân Việt Nam, Novembre 1941, tr.290)


      Cái “bâng khuâng khó hiểu của thời đại” nó nằm trong hai chữ “hờn câm” ở đoạn thơ 4 câu chót, mà ông Hoài Thanh đã bỏ đi. Hai bài thơ trên làm nên Thâm Tâm, người thi sĩ có giọng thơ hành hiệp của nam nhi thời chiến quốc, mặc dầu cuộc sống của ông không cho thấy điều đó. Nhưng thơ ông cho thấy điều đó:

      Rầm trời chớp giật mưa mau,

      Lửa đèn chấp chới, khói tàu mù u

      Bốn phương đây bạn đó thù

      Hiệu còi xoáy lộng bản đồ năm châu.

      - A, cơn thảo muội bắt đầu

      Tuổi xanh theo gió ngâm câu dặm dài...

      (Thâm Tâm, Tráng Ca, 1944)

      Còn gì rõ ràng hơn? Thơ ông không nhiều, song niềm thao thức về sự vận động của thời đại hiện ra rất rõ. Ông đã lên đường tham gia kháng chiến rất tích cực. Tích cực hơn là người ta biết. Ông từ trần trong một lán người Thượng (Lán Na Pò) trên vùng Việt Bắc, vì bị sốt rét ngã nước, trong khi đi công tác. Hôm ấy là ngày 18 tháng 8, 1950, ông vừa qua tuổi 33 được 3 tháng, 6 ngày (ông sinh ngày 12 tháng 5, 1917), và đang là Thư ký Tòa soạn tờ báo kháng chiến tên là Vệ Quốc Quân. Năm 1950 thanh niên đi kháng chiến chưa rõ lắm về các chủ trương của ông Hồ, coi việc kháng chiến là việc cứu nước đuổi thực dân xâm lược Pháp. Ðó là thời rực rỡ của những thơ văn thắm thiết tình Yêu Nước. Một phóng viên báo Vệ Quốc Quân kể lại như sau:

      “...Tới Cao Bằng, bỗng một hôm anh [Thâm Tâm] kêu mệt. Anh sốt, nằm ở một căn nhà sàn, gần biên giới... Tôi cũng tưởng anh chỉ sốt bình thường một hai ngày rồi qua khỏi. Ðến một buổi chiều, tôi được cử xuống đơn vị. Trước khi đi, tôi vào ngồi với anh một lát. Tôi nắm tay anh, thấy rất nóng. Mắt anh vàng hơn ngày thường. Anh bảo tôi đưa anh sang một chỗ nằm khác cho thoáng hơn. Tôi ôm lấy lưng anh, dắt đi. Anh vừa run lẩy bẩy vừa khẽ bảo:

      - Mình thấy trong người thế nào ấy. Cậu đi khỏe nhé.

      Tôi không thể ngờ đó là câu cuối cùng của anh nói với tôi. Ở đơn vị được một tuần, một hôm bỗng Thôi Hữu gặp tôi, báo tin là Thâm Tâm đã mất.”

      (Hoài Việt, Thâm Tâm và T.T.KH, tr. 19)

      Trong tập Văn Học I, NXB Tác Phẩm Mới in tại Hà Nội vào năm 1985, Từ Bích Hoàng viết: “...dọc đường đi lên biên giới (thu 1950), khi tới Quảng Uyên thì Thâm Tâm bị sốt cao, anh em trong đoàn phải gửi anh lại... Anh được đưa vào một nhà sàn ở Pò Noa và được một chú liên lạc viên đêm ngày săn sóc chu đáo. Tuy ốm nặng nhưng anh không kêu than và cũng không giối giăng lại gì khi mất. Anh được chôn cất luôn tại bản Pò Noa. Chú liên lạc, sau khi anh mất, đã xin được bà con dân bản một mảnh vải trắng làm khăn tang và chỉ duy nhất đó là người để tang cho Thâm Tâm.” (trang 140).


      Năm 1945 ông đã đi, góp cái thân thể nhỏ nhoi, thêm cánh tay gầy guộc cho kháng chiến. Nhưng kháng chiến không để lại gì trong thơ Thâm Tâm. Những gì ông để lại là những gì đã viết trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, giai đoạn từ 1937 tới khoảng 1944. Hào khí trong thơ Thâm Tâm có trước giai đoạn kháng chiến. Cái sức lực suy nhược ấy không cất nổi gánh nặng ở đời, nhưng biến thành Thơ, thành Hành, trở thành hào khí của những bài thơ, bài hành nổi tiếng nhất trong những bài thơ bài hành Việt Nam, về tâm huyết trai trẻ của một nước đang sống trong thời bị trị, mặc dù xung quanh tràn ngập những sáng tác lãng mạn, của một nền thi ca lãng mạn và tượng trưng, với những Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Bích Khê,... Rõ ràng Thâm Tâm thuộc dòng Thơ Chính Khí ngay từ đầu, và cho tới khi nằm xuống.


      Viên Linh

      Nguồn: thamtam.net




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Thủy Tang Viên Linh Thơ

      - ‘Thơ Tuyển’ vào cuộc lữ hành Viên Linh Giới thiệu

      - Tô Kiều Ngân và Mặc Khách Sài Gòn Viên Linh Hồi ức

      - Hồi Sinh Viên Linh Truyện ngắn

      - Dòng Thơ Chính Khí thời tiền chiến: Nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) Viên Linh Nhận định

      - Tâm sự năm thứ 21 ‘Khởi Hành’ Viên Linh Hồi ức

      - Ý kiến về một bài trên Học Xá Viên Linh Ý kiến

      - Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam Viên Linh Lời Tựa

      - Nguyễn Thị Hoàng, tuyển truyện 12 tác giả Viên Linh Giới thiệu

      - Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại Của Huỳnh Hữu Ủy Viên Linh Nhận định

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Chuyện Phiếm Về Tiểu Thuyết (Triều Sơn)

      - Nuôi Sẹo (Trần Hoài Thư)

      - Lê Hữu Mục: Tâm moa là mây (Nguyễn Văn Sâm)

      - Điểm sách Vietnamese/Tiếng Việt Không Son Phấn của GS Nguyễn Đình Hòa (Đàm Trung Pháp)

      - Thơ Tình Vương Đức Lệ (Giang Hữu Tuyên)

      - Nhà thơ Nguyễn Bính và "Tỉnh Giấc Chiêm Bao"

      (Nguyễn Ước)

      - Thử đọc lại vài trang sách của Trần Doãn Nho

      (Lương Thư Trung)

      - Thơ Thành Tôn, thân xác như một ám ảnh hiện sinh (Trần Doãn Nho)

      - Một Vài Kỷ Niệm Với Bùi Giáng (Mai Thảo)

      - ‘Thơ Tuyển’ vào cuộc lữ hành (Viên Linh)

      - Tô Kiều Ngân và Mặc Khách Sài Gòn (Viên Linh)

      - Tạp chí Bách Khoa được 'số hóa' toàn bộ

      (Phạm Phú Minh)

      - Thành Tôn, chàng ‘thư si’ (Trần Doãn Nho)

      - Phan Nhiên Hạo phỏng vấn Hồ Đình Nghiêm

      (Phan Nhiên Hạo)

      - Điểm sách Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn

      (Đàm Trung Pháp)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Dẫn Lược Từng Chương Tiểu Thuyết Danh Tiếng của Thomas Hardy (Trần Văn Nam)

      - Một chuyến đi (Trăm lần vui. Vạn lần buồn) (Phạm Văn Nhàn)

      - Viết về Duyên (Đỗ Xuân Tê)

      - Hình như cây súng con lạ lắm (Trần Hoài Thư)

      - Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

      - Bằng Hữu, Thật Sống Đủ Ngay Đây (Phan Nhật Nam)

      - Gặp anh Đặng Tiến và đi thăm Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Những Giải Thưởng Văn Chương Trên Nước Việt (Nguiễn Hữu Ngư)

      - Đứng Trước Thực Tại (Lý Hoàng Phong)

      - Tản Mạn Về Tính Nhân Bản Trong Thi Ca Miền Nam Thời Chiến (Trần Hoài Thư)

      - Nhận Định Về Thơ Hậu Chiến (Lê Huy Oanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      - Cuộc Phỏng Vấn Văn Nghệ (Nguyễn Ngu Í)

      - Đi tìm nguồn cội (Nguyễn Xuân Hoàng)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      ,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Duy Liêm,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hồ Đình Nghiêm,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)